Sáo trúc Việt NamSáo Trúc là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi hơi vòm của dân tộc Việt. Đặc biệt rất được phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.

Sáo được làm bằng một đoạn ống trúc, hoặc nứa có chiều dài 40 – 55cm, đường kính 1,5 – 2cm. Ở phía đầu ống có một lỗ hình bầu dục đó là lỗ thổi. Trong lòng ngay gần lỗ thổi được chặn bằng một mẩu nút bấc hoặc gỗ mềm để điều chỉnh độ cao thấp khi cần thết. Thẳng hàng với lỗ thổi có khoét 6 lỗ bấm, lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi 12cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau (1cm). Mở dần các ngón ở 6 lỗ bấm ta sẽ có các âm Do1, Rê1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1, Do2. Phía sau cuối ống sáo có một lỗ không bấm là lỗ định âm.

Khi thổi sáo, thân sáo đặt ngang sang bên phải, miệng đặt lên lỗ thổi. Người thổi sáo có thể điều chỉnh luồng hơi (rót hơi yếu đường hơi đi từ từ và yếu, rót hơi mạnh đường hơi đi nhanh và mạnh). Sáo thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu nhạc.

Khoảng cuối thập kỷ 70, nghệ sĩ Đinh Thìn và Ngô Nam đã cải tiến cây sáo 6 lỗ thành sáo 10 lỗ để mở rộng âm vực, cho các nghệ sỹ chơi những tác phẩm tương đối dễ dàng hơn như “Tiếng gọi mùa xuân” của Đinh Thìn, “Tình quê” của Hoàng Đạm, “Tiếng sáo bản Mèo” của Ngọc Phan…

Tiếng sáo Việt Nam

Nếu cao độ nghệ thuật là đạt tới u hoài thì cây sáo quả là một phương tiện giúp ta dễ dàng thổ lộ nỗi lòng. Nhất là cây sáo Việt Nam. Tôi nói sáo Việt nam vì rằng sáo phương tây được chế tạo phức tạp, có rất nhiều bộ phân nhưng thổi lên, ta không nghe thấy âm thanh u buồn, lả lướt như tiếng sáo Việt nam.

Phải chăng cây sáo Việt nam với cấu giản dị thô sơ, đã phản ánh cái tâm hồn tràm lắng nhiều hoài cảm của một dân tộc nhược tiểu mà lịch sử là một chuỗi đấu tranh gian khổ, lâu dài với thiên nhiên khắc nhiệt và với ngoại xâm, đau nhục lê thê mà vinh quang thì ngắn ngủi.

Tiếng sáo vẳng lên là ta đã thấy nhớ nhà, nhớ người thân yêu, nhớ bờ tre đầu ngõ, nhớ bụi chuối sau vườn, nhớ những kỉ niệm mến thương, nhớ hồi đầm ấm tươi vui cũng như ngày khổ đau, nước mắt. Tiếng sáo gợi dậy thời thơ ấu, tiếng sáo vẽ nên những đêm trăng, tiếng sáo gọi hồn những mối tình dang dở, tiếng sáo làm ta gắn bó với quê hương. Dầu không được sử dụng bởi đôi bàn tay của người nhạc sĩ lành nghề, tiếng sáo của những buổi trưa hè vẳng lên từ khoảng đồng lộng gió, nghe sao vẫn véo von gợi buồn man mác mơ hồ.

Tiếng sáo khởi lên từ đâu không ai biết. Người nào thổi ta cũng không hay. Có thể là một chàng nông dân, dưới bóng mát gốc cây hay một chú mục đồng trên mình trâu đang thả điệu véo von theo từng mây lơ lửng. Cái hồn sầu Đông Á hắt hiu nhưng dễ dàng cất lên từ những chiếc sáo tre, sáo trúc của Việt Nam, của Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản hay của những thổ dân tiểu đảo ven biển Thái Bình Dương mà sáo tây phương không thể thực hiện được.

Sáo trúc Việt Nam

Người ngư phủ chèo tuyền trên sông, ven bờ lau sậy mọc đầy, với tay bứt một ống sậy, khoét sáu lỗ là có ngay một ống sáo để hòa điệu với tiếng nuwóc chảy, chim kêu. Người tiều phu vào rừng, chặt một ống trúc, khoét sáu lỗ là đã thổi lên được âm thanh giống như hồi âm của suối reo, lá hát và ngàn muôn tiếng vọng của rừng thiêng.

Người thổi sáo đã đi vào lòng tạo vật, diễn tả thiên nhiên cũng như nói lên lòng mình qua nhạc cụ thô sơ, lòng mình thì sâu kín rối rắm vò tơ nhưng cây sáo thì chỉ có sáu lỗ mà tài tình làm sao, nghe như khóc như than, khi thì phượng hoàng xòe cánh đùa rỡn trong đêm trăng, như mưa khuya thanhd thoát, như chim hót, như gió lùa như tiếng thủ thỉ ân tình, mật rót tai như nỗi lòng ai dàn trải trong không gian, gửi về muôn hướng.

Thật vậy, không có âm thanh của nhạc cụ nào lại vang xa, càng xa càng trong vắt, càng mơ hồ. Người chơi đàn, rung nắn phím tơ bằng gân tay. Người thổi sáo ngoài mười ngón tay ra, còn dùng hơi thở của mình để tạo nên âm thanh. Tiếng sáo gần với tiếng người nó đích thực là tiếng lòng. Hơi thở thổi vào lòng trúc, đôi tay uốn nắn hơi thở ấy để phát ra âm thanh của sự sống.

Sáo trúc Việt Nam

Tiếng sáo còn tồn tại với văn chương, sách sử, đó là tiếng sáo của Trương Lương trên núi Cối kê đã làm xiêu lòng tám nghìn quân hạng Võ, là tiếng sáo rợ Khương hoang đã hắt hiu, là tiếng trúc của Cao Việm Ly não nùng bên bờ Dịch Thủy, là khúc Lạc Mai Hoa trong thơ Lý bạch, tiếng sáo nổi lên đủ cho hoa mai buồn bã mà rụng xuống đầy sân…

Trở lại với quê hương Việt Nam, tiếng sáo là âm thanh thân thiết, gần gũi nhất với tâm hồn người Việt. Không ai nghe tiếng sáo mà không bồi hồi. Chơi sáo không mất nhiều tiền, cũng không cồng kềnh bất tiện. Bất cứ đâu, bên đồng, trong rừng, trên bãi biển, trong khách thính, chỉ cần nâng sáo lên là đủ hấp dẫn người nghe.

Thổi sáo dễ nhưng thổi cho hay lại là một nghệ thuật. Có người có tài trời cho nhưng thiên tài nhiều lúc chỉ là kết quả của sự kiên nhẫn, tập dợt mà nên. Bạn cứ thổi đi, chịu khó luyện tập, đặt hết lòng say mê vào đó, bạn sẽ thành công, điều đó không có gì lạ cả.

Tổng hợp bởi Học Sáo .NET

Theo: Tự học thổi sáo và ngâm thơ